Ý THỨC
NHÂN BẢN TRONG
VĂN CHƯƠNG XUÂN VŨ
Nguyễn
Thanh Liêm
Phi
Lộ:
Xuân Vũ tên thật là Bùi Minh Triết sinh ngày 19-3-1930 tại làng Hương Mỹ, quận
Mỏ Cày, tĩnh Bến Tre. Thân phụ là cụ Bùi Văn Hai, giáo chức, có sáng tác cả ngàn
bài thơ Đường luật nhưng không có phổ biến. Lúc nhỏ học trường Tiểu học Mỏ Cày,
rồi vào Collège Le Myre De Vilers. Năm 1945 ông bỏ học đi theo Kháng Chiến, vào
chiến khu U-Minh làm phóng viên cho tờ “Tiếng Súng Kháng Địch” của Khu 9. Năm
1955 ông tập kết ra Bắc làm biên tập viên cho báo “Văn Nghệ.”. Sau một thời gian
sống ở Hà Nội, ông rất thất vọng với chế độ Cộng Sản do Hồ Chí Minh và các đồng
chí của ông lãnh đạo. Xuân Vũ nhiều lần tìm cách trốn về Nam nhưng lần nào cũng
thất bại. Mãi đến năm 1965 ông mới có cơ hội chánh thức xin về Nam để nghiên cứu
phong trào Đồng Khởi tại tĩnh nhà (Bến Tre). Ông được chính quyền Hà Nội chấp
thuận cho đi B (tức là vượt Trường Sơn đi vô Nam). Ông phải mất hai năm gian nan
nguy hiểm trên đường Trường Sơn mới vào được tới chiến khu D ở Tây Ninh vào năm
1967. Năm sau ông quyết định trở về với chế độ tự do. Ông ra trình diện với
chính quyền tĩnh Bến Tre, được đưa về Sài Gòn phục vụ trong Bộ Chiêu Hồi, với
chức vụ Phó Giám Đốc Nha Chiêu Hồi. Quyển hồi ký nổi tiếng của ông, quyền “Đường
Đi Không Đến,” được ra đời trong năm 1971 và được giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật
Quốc Gia (1972-1973).
Năm
1975 gia đình ông sang định cư ở Corpus Christi, Texas. Ông phải làm lụng vất vả
đủ nghề để nuôi sống gia đình. Năm 1987 ông dời về San Antonio (Texas). Khi việc
gia đình tạm ổn định ông bắt đầu viết lại, và viết rất hăng say. Tính đến cuối
năm 2003 ông đã hoàn tất 78 tác phẩm. Từ tháng 9 năm 2003 ông bắt đầu bị đau,
phải đi lộc thận. Tháng 11/2003 ông phải giải phẫu tim. Bệnh biến chứng sau đó,
và cuối cùng ông mất hồi 2:22 phút chiếu ngày 1-1-2004, hưởng thọ 73 tuổi, để
lại một vợ 5 con.
***
Đầu
năm 2004 một hung tin đã đến với các văn nghệ sĩ và một số không nhỏ đồng bào
Việt Nam hải ngọai: nhà văn Xuân Vũ đã từ trần. Tin này được phổ biến nhanh
chóng và rộng rải. Không biết bao nhiêu bài vở được đăng trên các báo chí nói về
nhà văn nổi tiếng này. Riêng tờ “Tự Do” số 372 (từ ngày 14-02-04 đến ngày
27-02-04) đã dành hơn 100 trang (từ trang 110 đến hết trang 223) đăng bài nói về
Xuân Vũ của hơn mười văn thi sĩ nổi tiếng như Xuân Tước, Hồ Trường An, Hải Bằng,
Thanh Thương Hoàng, Hà Thượng Nhân ...Bài nào cũng rất có giá trị, cũng đều nói
lên sự nghiệp văn chương sáng chói cũng như con người đáng thương, đáng kính, và
đáng quý của nhà văn quá cố. Các tác giả ở đây là những người đã từng thân thiết
và biết rõ Xuân Vũ. Bài vở của họ cho chúng ta nhiều chi tiết rất đặc biệt về
con người và sự nghiệp của nhà văn.
Điểm
nổi bật trước nhất là sức viết và khối lượng tác phẩm khổng lồ của ông. Trước
1975 tác phẩm của ông không có gì đáng kể về phương diện số lượng. Những năm đầu
tiên trên đất Mỹ, vì bận làm việc nuôi thân và gia đình, ông cũng không viết
được gì nhiều. Nhưng, “sau một số năm làm việc “ra tiền” nhưng không “ra chữ”
kia, Anh (Xuân Vũ) đã quay lại bàn giấy để chuyên tâm trở lại cái nghiệp của
mình.” (Trương Anh Thụy, Tự Do Bi-weekly, số 372, tr. 192.). Thầy Đồ Họ Tăng đã
rất ngạc nhiên về sự quay trở về nghề viết này của Xuân Vũ. Thầy Đồ đã có lần
nghĩ một cách sai lầm là “anh chàng lãnh giải thưởng của “hai chế độ thù nghịch
này” sẽ không chung tình với nàng văn chương nữa đâu.” Nhưng Thầy Đồ thú nhận
rằng:”đồ tôi đã lầm, Xuân Vũ dọn về San Antonio, anh lại viết khỏe hơn, liên
tiếp những tác phẩm đánh lớn và ăn khách xuất hiện.” (Thầy Đồ Họ Tăng: Xuân Vũ,
giơ cao cây viết tới những ngày cuối, bài chưa đăng).
Ông
Lê Tùng Minh trong bài “Xuân Vũ, Một Ngôi Sao Văn Học Đã Tắt,” cho biết nhà văn
này “có sức sáng tác khác thường! Chỉ trong vòng 8 năm gần đây (1996-2003),
mỗi năm nhà văn tuổi 70 này đã cho ra đời trung bình là 4 tác phẩm, với khoảng
trên dưới 1,000 trang...” (nt., tr.152).
Cũng
Trương Anh Thụy, nói về sức sáng tác và số lượng tác phẩm lớn lao của Xuân Vũ,
viết: “ Anh đánh Đông, chinh Tây, viết ào ạt, viết đủ thứ... Anh đều đặn có
mặt trên khoảng 20-30 tờ báo hải ngoại...Theo như một ước tính, có lẽ còn chưa
kể các bản thảo hay những tác phẩm chưa hoàn tất, tổng tác phẩm của Anh cho đến
nay đã lên tới 75 nhan sách, truyện ngắn, truyện dài, truyện vừa, truyện trường
thiên, rồi hồi ký, biên khảo...” (nt. , tr. 192).
Và
theo Mặc Bích thì “Gần 100 cuốn sách (nếu kể cả sách đang in hay sắp in).
Người đọc có hiểu được bao nhiêu tơ mà tầm đã rút ruột nhả ra? Làm việc suốt
ngày với trí tuệ, không chỉ cần mẫn mà còn say mê.” (nt., tr.112).
Nhận
xét của Nguyễn Thị Thanh Bình về sức viết Xuân Vũ là “Ông lúc nào cũng thấy
như mình không còn nhiều thời gian để viết. Viết, viết, và viết, như thể ông vẫn
còn quá nhiều điều để nói mà vẫn chưa nói hết.” (nt., tr. 180).
Những
nhận xét được trích dẫn trên đây cũng đã được chính Xuân Vũ xác nhận trong bài
tựa cho quyển Tự Vị Thế Kỷ (xuất bản 1990) của ông: “Tôi hiện nay tạm đủ
sống, tôi bỏ mọi việc làm để chỉ viết mà thôi, viết bằng tay phải và tay trái
chứ không chỉ viết bằng tay trái như năm năm đầu tị nạn bận lo cơm áo nữa...Chưa
bao giờ tôi thấy tiếc thì giờ như bây giờ. Và cũng chưa bao giờ tôi thấy tôi
thích cái thằng tôi như bây giờ.” (tr. VI-VII).
Ông
chưa bao giờ thích “cái thằng tôi như bây giờ” vì bây giờ ông được để hết thì
giờ vào việc viết lách, và có tất cả tự do để viết ra những gì ông muốn viết. Có
điều là những gì ông muốn viết ra thật quá nhiều, nhiều đến đổi ông sợ không có
đủ thì giờ để viết mặc dù ông có thói quen viết thật nhanh. Ông tiếc thì giờ là
vậy. Nhưng những điều ông muốn viết ra là những gì? Đó là những gì ông đã đụng
chạm, đã chứng kiến, đã thu nhập vào nội tâm, đã nghiền ngẫm suy tư, đã ghi sâu
vào ký ức, đó là tất cả những gì đã diễn ra trước đôi mắt nhân chứng trong cuộc
sống của ông, một cuộc sống thật là rộng rải, thật là phong phú. Đây không phải
là cuộc sống yên ấm, chật hẹp trong nhung lụa, suôn sẻ hưởng một nền giáo dục
kinh viện, kết thúc với những bằng cấp thật cao, rồi cưới vợ giàu có đẹp đẻ,
chiếm địa vị nào đó trong xã hội yên bình, sống một đời dư dảsung sướng hạnh
phúc. Tình thế của đất nước từ năm 1945 đã không để yên cho ông đi học hết trung
học. Ông đã phải bỏ học về quê Bến Tre, tham gia phong trào cứu quốc. Ông đã ý
thức được lòng yêu nước, và ý thức về sự dấn thân vào những hoạt động hữu ích
cho quốc gia. Trong thời gian đi kháng chiến ở trong Nam, cũng như những tháng
ngày tập kết ngoài miền Bắc ông đã học được rất nhiều, không phải là những bài
học ở học đường nhưng là những bài học quý giá hơn ở ngoài đời. Là người rất
thông minh, lại đóng vai trò một nhà văn, một phóng viên của tờ “Tiếng Súng
Kháng Địch” thuộc Khu IX kháng chiến, ông có cơ hội tiếp xúc với hầu hết những
nhân vật quan trọng, đầu não của công cuộc kháng chiến chống Pháp. Lúc tập kết
ra Bắc cái thông minh giúp ông tạo điều kiện để gặp gỡ giới văn nghệ sĩ miền
Bắc, để hỏi han, để tìm hiểu, để suy tư. Ông đọc rất nhiều sách, nhiều tài liệu
về văn chương, về tư tuỏng, của những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng ở trong nước
cũng như ở ngoại quốc. Phải nói là ông biết quá nhiều về quê hương ông, về xã
hội Việt Nam, miền Nam cũng như miền Bắc, và công cuộc kháng chiến oai hùng của
những người đứng lên chống Pháp lúc ban đầu. Ông cũng biết quá nhiều về những
nhân vật quan trọng lãnh đạo công cuộc kháng chiến về sau. Nhưng cái biết nhiều
nhất và nguy hiểm nhất của ông là những bí ẩn, những âm mưu thầm kín, những giả
dối lừa bịp, những tham tàn nhơ nhuốc của những kẻ cầm đầu cuộc Cách Mạng, cũng
như những giáo điều cùng chế độ cộng sản, và xã hội chủ nghĩa mà ông thường mỉa
mai bằng danh từ xã nghĩa. Kho kiến thức đó là kho tài liệu vô cùng phong phú để
cho ông viết ra liên miên hết quyển này đến quyển khác. Mở đầu truyện ngắn “Tự
Vị Thế Kỷ” ông viết: “Từ mười năm qua tôi chỉ có một đích ngắm. Viết tất cả
những gì tôi biết về Cộng Sản Hà Nội ra thành chữ để ai muốn đọc thì đọc. Tập
Truyện Tự Vị Thế Kỷ này là quyển thứ sáu tôi viết về Cộng sản...Viết những
truyện này tôi có ý định mô tả bản chất và mặt mũi Cộng sản, không phải chung
chung mà bằng xương bằng thịt, có tên có tuổi.”(Tựa Tự Vị Thế Kỷ).
Với
ông người cộng sản cũng như chủ nghĩa cộng sản không có gì đáng phục, đáng đi
theo. Nó chỉ là một cái vòng lẩn quẩn. “Dùng sức dân để Phá Ngục Bastille để xây
ngục Bastille khác to và kiên cố hơn để nhốt dân. Đó là Cộng sản.” (Tựa Tự Vị
Thế Kỷ). Ngục Bastille của Pháp thời quân chủ tượng trưng cho quyền độc đoán của
nhà vua, cho sự áp bức người dân, sự đày đọa người dân trong dốt nát, khốn khổ,
bần cùng, bắt họ phải phục vụ cho giới thượng lưu quyền thế. Ý nghĩa của sự phá
ngục Bastille là lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế. Tưởng người dân sẽ được giải
phóng khỏi sự áp bức của chế độ độc tài bất công và bất nhân, nhưng mà không.
Cộng sản chỉ đập phá, lật đổù chế độ chuyên chế của nhà vua để thay thế bằng một
chế độ chuyên chế, độc tài khác gớm ghê hơn nữa của chế độ cộng sản. Nhiều tác
phẩm của Xuân Vũ được sáng tạo với chủ đích vạch trần những sự chuyên chính độc
tài của Cộng sản Hà Nội, cũng như những thủ đoạn lưu manh tham tàn của những
người lãnh đạo chế độ phi nhân này. Ông viết : “Nhiều nhà văn, nhà chính trị,
nhà trí thức và người thường – không nhà gì cả – cho rằng cộng sản là loại người
không tim, không có nhân tính. Tôi đồng ý hoàn toàn. Nhưng chúng giỏi che dấu và
giỏi lừa bịp. Cho nên con quỉ khát máu mang bộ mặt người vẫn sống chung được với
loài người thậm chí còn được loài người tin yêu mới lạ chứ.” (Tựa Tự Vị Thế
Kỷ).
Xã
hội Cộng sản Việt Nam đã được Xuân Vũ vẽ ra trong hai bức tranh thật sống động,
khác nhau nhưng tiếp nối lẫn nhau. Bức tranh thứ nhất là bức tranh của xã hội
Việt Nam dưới chế độ Cộng sản Hồ Chí Minh trước năm 1975. Quyển “Sông Nước
Hậu Giang” và một số các truyện ngắn trong “Con Người Vốn Quý Nhất”
và “Tự Vị Thế Kỷ” của ông đã góp phần vẽ nên bức tranh này. Đặc biệt nhất
là bộ hồi ký năm quyển (Đường Đi Không Đến, Xương Trắng Trường Sơn, Mạng
Người Lá Rụng, Đến Mà Không Đến, và Đồng Bằng Gai Gốc) mật thiết liên hệ tới
bức tranh Cộng sản Việt Nam trước 1975. (Những quyển hồi ký này, nhất là quyển
Đường Đi Không Đến) có giá trị đặc biệt mà tôi sẽ đề cập đến ở phần sau.
Bức
tranh thứ hai vẽ lên xã hội Việt Nam sau khi bị Cộng sản thống trị từ Bắc chí
Nam sau ngày 30 tháng tư 1975. Tác phẩm “Đỏ Và Vàng”, và nhiều truyện
ngắn trong “Thiên Đàng Treo Đứt Giây” và nhiều tác phẩm khác của ông đã góp phần
xây dựng bức tranh thứ hai này.
Ta
hãy nhìn vào bức tranh thứ nhất trước. Ngay từ lúc công cuộc kháng chiến còn dở
dang mà những tệ hại của chủ trương nhuộm đỏ phong trào tranh đấu cũng như những
xấu xa đen tối của những người lãnh đạo Cộng sản cũng đã thể hiện rồi. “Sông
Nước Hậu Giang” cho thấy rõ bộ mặt thật của Cộng sản và những kẻ mặt người lòng
thú do Hồ Chí Minh gởi từ ngoài Bắc vào Nam đóng vai trò lãnh đạo kháng chiến ở
vùng này. Đây là một quyển tiểu thuyết kể những sinh hoạt của một số cơ quan
trong khu IX mà nhân vật chính là anh Quang, một thanh niên có chút trình độ học
vấn trung học nhưng đã bỏ học đi theo kháng chiến. Anh phục vụ trong một cơ sở
ấn loát và sau đó làm phóng viên cho tờ “Tiếng Súng Kháng Địch”, tờ báo của Khu
IX Kháng Chiến. Nhân vật này mang tên tiểu thuyết là Quang nhưng có lẽ tên thật
của anh ta ở ngoài đời là Xuân Vũ. Quang có cơ hội biết rõ chủ trương nhuộm đỏ
kháng chiến của Hồ Chí Minh như thế nào, việc thanh toán các đảng phái khác như
thế nào cũng như nhiều hạng người từ hạng thật cao đến hạng cùng đinh, từ các
nhà trí thức thật lớn đến những kẻ dốt đặt không đọc được một chữ nào. Quang có
cơ hội làm quen với họ, chơi thân với họ, biết rõ chuyện gì xảy ra trong đời họ.
“Sông Nước Hậu Giang” cho thấy trong hàng ngũ kháng chiến có nhiều hạng người:
có những người đi kháng chiến là đi theo tiếng gọi của non sông khi tổ quốc lâm
nguy. Họ chỉ biết làm bổn phận công dân khi sơn hà nguy biến, không nghĩ gì đến
địa vị, đảng phái. Có lẽ Quang, Tú Anh, và nhiều trí thức miền Nam khác trong
truyện là những người thuộc nhóm này. Bên cạnh đó cũng có những người kháng
chiến khác xem cộng sản là lý tưởng cứu nguy tổ quốc và nhân loại. Những người
này, ngoài ý thức phụng sự dân tộc, còn muốn gia nhập đảng cộng sản để tranh đấu
hữu hiệu hơn. Họ có thể có một số cũng thuộc thành phần trí thức, địa chủ ở miền
Nam. Hạng người thứ ba là hạng kháng chiến thuộc thành phần bần cố nông hay
trung nông, và đây là thành phần quyết chí vô đảng cộng sản cho bằng được. Đây
là thành phần được gọi là “tiến bộ” theo nghĩa của Cộng sản. Sự phân biệt các
thành phần , gần như là kỳ thị giai cấp này, đưa đến hậu quả tai hại là:
“những
người làm bí thư chi bộ CS đều là thành phần cơ bản, tức là bần cố nông. Do đó
những người tiến bộ thường là bần cố nông. Công tác của họ là chèo xuồng, liên
lạc, sản xuất, gửi giấy tờ chớ không làm nổi các việc văn hóa như đánh máy hoặc
làm trưởng, phó cơ quan. Vì vậy có sự chèo ngoe là trưởng cơ quan chuyên môn
luôn luôn là trí thức, còn bí thư chi bộ thì lại là bần cố! Trưởng cơ quan là
người ngoài đảng khi muốn làm việc gì thuộc nội bộ lại phải có sự đồng ý của bí
thư chi bộ. Muốn thi hành kỷ luật một nhân viên đảng viên, vị trưởng cơ quan
phải thỉnh ý bí thư chi bộ chớ không dám quyết định một mình... Chi bộ là một
thứ tổ chức nằm trong tổ chức, một thứ cơ quan nằm trong cơ quan, đôi khi lại
chỉ huy ngược lại cơ quan và thủ trưởng của mình. Đó gọi là đảng lãnh đạo.” Tình
trạng đặc biệt này đưa đến sự xung đột gay go giữa những giai cấp với nhau. Sự
kỳ thị, xung đột còn nguy hiểm, tệ hại hơn nữa là sự tranh chấp, thanh toán nhau
giữa các đảng phái chính trị, như sự xung đột đỏ xanh và sự thanh toán nhau giữa
hai đảng Đỏ là cộng sản, và đảng Xanh là dân chủ. “Đỏ và Xanh là hai đồng chí
cùng kháng chiến phục vụ dân tộc, nhưng đỏ lại lộng quyền và có tham vọng thanh
toán đám xanh để nắm toàn bộ quyền hành...CS kết nạp thì DC cũng kết nạp. Nhưng
về sau, CS thấy DC gây được ảnh hưởng lớn nên sợ hải, bèn tìm cách thanh toán DC.” (Sông
Nước Hậu Giang, tr. 140-141).
Trong
mưu đồ nhuộm đỏ và thống lãnh phong trào kháng chiến, HCM gởi những cán bộ CS
cao cấp, những người thân cận với ông ta, vào Nam tìm cách thay thế thành phần
lãnh đạo phong trào tranh đấu trong Nam dù họ có bao nhiêu công lao đối với
kháng chiến đi nữa. Đây là sự chứng kiến của Quang:
“Quang đã về cơ quan mới... Cơ quan mới là ban Tuyên Huấn của Phòng Chính Trị
Phân Liên Khu miền Tây. Từ ngày phái đoàn trung ương vào, các cơ quan quân đội
trong chiến khu IX đều thay đổi từ tổ chức đến người chỉ huy. Tất cả những cấp
chỉ huy khu gốc người Nam Bộ đều được đặt vào chức vụ khác hoặc không có ghế
ngồi. Vì bất tài, kém đức (!?) hay vì gì khác để người ngoài trung ương vô tha
hồ chia chiếu và xôi thịt.
(Mãi
về sau khi tập kết ra Bắc, nhìn thấy thành phần trong chính phủ Hà Nội, Quang
mới nhỡ lẽ ra là cuộc kháng chiến này là một trò bịp vĩ đại của cụ Hồ. Khi cần
đưa ra đỡ đạn cà nông và chặn xe tăng Pháp thì họ kêu dân Thành Đồng Tổ Quốc
nhào ra. Khi kháng chiến thành công rồi, mâm cỗ dọn lên, cụ Hồ cùng các cháu
Trung và Bắc Kỳ vuốt râu chạm cốc, dân Nam Kỳ chun dưới đít ván chực xương. Đéo
có mặt nào ngồi được cái ghế kha khá. Sáng mắt chưa dân Thành Đồng Tổ Cò?)(SNHG,
tr.297-298).
Sau
đây là một số các trường hợp cụ thể: “... Tư lệnh Phân Liên Khu miền Tây là
tướng hô Dương Quốc Chính, chính ủy là Lê Đức Thọ kiêm Tư lệnh kiêm luôn chính
ủy Liên khu Nam Bộ (Thọ thay Lê Duẩn trong chức Bí thư Trung ương Cục sau này),
với tên mắt lươn Đinh Ngọc Thủy làm Trưởng Phòng Chính Trị (Sau này ra Hà Nội,
Thủy được giao cho làmTrưởng phái đoàn Việt Nam đi triển lãm thành tích nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở các nước Đông Âu XHCN và Liên Xô. Tại Bucarest, Thủy
quơ ẩu cô bé đoàn viên Thanh Niên cộng sản bị cô đồng chí phản đối báo cáo lên
đại sứ quán VN. Thủy xấu hổ nhảy lầu tự vận nhưng không chết). Bộ Tư Lệnh Phân
Liên Khu miền Đông gồm có Tư lệnh Trần Văn Trà, chánh ủy Phan trọng Tuệ. Các
nhân vật trụ cốt gốc Nam Bộ được đẩy êm về vườn xúc tép cắm câu cá tra. Trương
văn Giàu (không phải Trần văn Giàu) văng luôn hai chức Tư lệnh khu 8 rồi khu 9.
Nguyễn văn Trấn đi Tây không về. Trịnh Khánh Vàng đáo nhậm Sài Gòn. Huỳnh văn
Nghệ Tô Ký về làm tỉnh đội trưởng Thủ Biên và Bà Chợ (Bà Rịa, Chợ Lớn). Nguyễn
văn Sa chính trị viên Trung đoàn Tây Đô về làm tỉnh đội trưởng Bạc Liêu ăn hút
dưỡng lão đả đời. Hoàng Thế Thiện (Bí thư Võ Đại Tướng!?) thay Sa trong chức
chính ủy. Tất cả chính trị viên đều do tỉnh ủy nắm. Như vậy Trung ương đã hạ bệ
Nam Bộ một cách êm ru. Đám cán ngáo Nam kỳ tha hồ chửi lên cụ Hồ chơi đểu. Thằng
nào dám chửi công khai sẽ có trại giáo hóa chào đón. Cán bộ tiểu đoàn vô nghỉ
mát ở đây cũng nhiều. Hoàng Thọ bị Lê Duẩn mạo thơ Nguyễn Bình rồi đem đi thủ
tiêu ở Cạnh Đền vào thời điểm này. Phi Líp, Phi Hùng, hai cán bộ tiểu đoàn trật
quần trước mặt chính ủy Hoàng Dư Khương bị đưa vô trại giáo hóa rồi biệt tích.
Kháng chiến thật diệu kỳ cho ai và chẳng diệu kỳ cho ai?) (SNHG, tr. 304-305).
Trên
đây là một số trường hợp cho thấy mưu đồ xăm chiếm độc quyền phong trào kháng
chiến toàn quốc của cộng sản Bắc Việt. Nhưng bên cạnh mưu đồ lớn lao kia cái tồi
tệ nhất là cảnh các ông to cộng sản Bắc Việt âm mưu độc ác chiếm đoạt cho được
người phụ nữ trẻ đẹp con nhà gia giáo giàu có ở miền Nam bằng mọi cách kể cả
việc chia uyên rẻ thúy, đưa người yêu/vị hôn thê hay ông chồng đi vào chỗ chết
để dễ dàng thực hiện ý đồ đen tối của mình. Dùng tiền của, quyền thế dụ dỗ, bức
hiếp phụ nữ tuổi đáng con cháu mình để thỏa mãn thú tính, điều này không thiếu ở
những cán bộ chỉ huy Cộng sản trong “Sông Nước Hậu Giang.” Những tội ác dâm ô,
thác loạn của các lãnh tụ và các cán bộ cao cấp Cộng sản được phơi bày đầy dẫy
trong các tác phẩm của Xuân Vũ, ngoài quyển tiểu thuyết vừa kể. Ngoài ra còn có
những chuyện hết sức ghê tởm chỉ có trong thế giới Cộng sản của Hồ Chí Minh cũng
được tác giả ghi ra, như chuyện một cô gái còn trẻ bị một cán bộ lớn tuổi áp bức
làm tình với ông ta trên võng làm cho chiếc võng không chịu đựng nổi sức nặng
của hay người vùng vẫy đã phải đứt ngang làm cho cả hai người té từ trên cao
xuống những hòn đá lõm chỏm của Trường Sơn. Vì cô gái nằm dưới cho nên lưng cô
bị một hòn đá nhọn đâm lủng lưng gãy xương sống, nằm yên một chỗ, không cựa quây
được. Sau 3 ngày khổ sở, không thuốc men, cô này chết trong đau thương. Chi tiết
này được ghi trong “Đường Đi Không Đến” và sau này được viết lại thành truyện
ngắn “Lại Vốn Quý Nhất” trong quyển “Con Người Vốn Quý Nhất.” Cũng trong “Con
Người Vốn Quý Nhất” còn có câu chuyện kinh tởm hơn mà không ai có thể tưởng
tượng được.
Đó là
chuyện “Hạnh Ngộ Bọt Bèo” do một tên tù cộng sản kể về việc anh ta đã từng phục
vụ trên một chiếc tàu chuyên đi từ Bắc vào Nam chở các thương binh cộng sản, nói
dối là đưa ra tàu Liên Sô chũa bệnh, nhưng khi tàu ra biễn khơi thì được lệnh
quăng hết tất cả thương bệnh binh xuống biển.
Bức
tranh thứ hai của Xuân Vũ cũng cung cấp nhiều chi tiết mà tác giả cho là “ly kỳ,
quá sức hấp dẫn, quá sức tưởng tượng... những chi tiết không thể thấy ở đâu
ngoài Việt Nam, những chi tiết không một nhà văn nào tưởng tượng nỗi... Sau đây
là những chi tiết, chỉ liếc qua đã kinh tâm tán đởm. Mười cây cho một đầu người,
trẻ con nữa giá. Một năm tám ngàn người được cho vượt biên – Thu: 300 triệu đô
la – 600 bgàn lạng vàng – 30,000 lạng vàng,v.v... Vàng ở đâu mà nhiều đến thế?
Đó là của những người “làm tất cả để được bỏ nước ra đi.” Và nhờ buôn những công
dân của nước mình mà nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, qua tay của những cán
bộ có 30-35 tuổi đảng, đã thu lợi đến mức đó...” (Tựa Đỏ Và Vàng) . Tác phẩm Đỏ
Và Vàng vạch trần tất cả mánh khóe vơ vét, làm tiền của chủ nghĩa xã hội, của
chính phủ cộng sản và cán bộ các cấp trong việc bán tích kết vượt biên. Kế hoạch
cho vượt biên lấy tiền được nghiên cứu, chuẩn bị và thi hành như thế nào, ác độc
ra sao, thu vào được bao nhiêu... những chi tiết kinh khủng này được Xuân Vũ mô
tả khá đầy đủ trong tác phẩm này. Giá qui định của Trung Ương là từ bảy đến mười
lạng vàng, nhưng cán bộ có thể tùy ý tăng lên, đó là chưa kể các khoản trà nước
khác không có trong “kế hoạch.” Tác phẩm cho thấy cán bộ thi hành kế sách đã thu
hoạch được cho cá nhân và gia đình một sự sản đồ sộ. Làm tiền công khai, trắng
trợn, không bao lâu cán bộ và cấp lãnh đạo giàu to, và xài tiền như nước. Sau
đây là một phút phản tĩnh của một cán bộ thi hành chính sách làm tiền này:
“Cách
mạng là gì? Câu hỏi đó đã được trả lời rõ ràng nhất sau khi cách mạng thành
công. Khi đang tiến hành thì cách mạng thật cao cả, nhưng khi thành công rồi thì
lòi bộ mặt gian trá, đê tiện và sát nhân. Khi mới bắt đầu đi theo cách mạng thì
thằng này cũng như mọi người, hăm hở tự hào biết bao nhiêu. Nhưng khi cách mạng
thành công rồi lại nản chí vô cùng. Lắm lúc nghe người dân bảo: “Đừng có cách
mạng phải tốt hơn không?” – Hai Khiết nghĩ lan man, lan man.
Nhiều
khi Hai Khiết hối hận vì đã ăn hối lộ, đã gian dâm, đã lấy công quỹ xài như
nước, đã bắt dân để tống tiền, thậm chí giết oan nhiều người, nhưng với cách
mạng ngày nay đó là sự bình thường. Không ăn hối lộ tiền đâu trác táng, không
nạy công quỹ lấy đâu bịt mồm em út, không bốc lột nhân dân lấy đâu đấm mỏm các
anh lớn. Anh lớn không phải là thần thánh, anh lớn ham xe hơi, nhà đẹp và quơ vợ
bé vợ mọn hơn cả em út.
Hai
Khiết không thể làm một cây sen trong hồ mà chỉ là một mớ bùn trong cái bãi bùn
dưới gốc cây sen.” (Đỏ Và Vàng, tr. 150-151).
Trong
khi đó thì người dân sau khi bị bốc lột đến tận xương tủy, phải sống một đời
không một chút giá trị của con người. Chuyện Bố Còi trong “Con Người Vốn Quý
Nhất” có thể tiêu biểu cho cảnh khốn khổ tột cùng của con người dưới chế độ cộng
sản phi nhân Hà Nội.
Tựa
quyển Tự Vị Thế Kỷ tác giả viết: Kỳ Cục là cảm giác đầu tiên của tôi đối với
Cộng sản... Bây giờ lưu vong. Đứng xa Cộng sản một vạn cây số, và sống trên một
nước Tự do, tôi thấy Cộng sản càng Kỳ Cục.” Và cái kỳ cục đó đã được Xuân Vũ đưa
vào Tự Vị Thế Kỷ của ông. Ông bảo: “Tên sách nghe có hơi khô khan, nhưng khi vở
vào trong bạn sẽ bắt gặp nào bộ mặt tổng bí bị mèo quào, nào ủy viên bộ chính
trị o gái bị gái mắng, nào giảng viên trường Nguyễn Ái Quốc nhảy lầu tự vận vì
muốn chạy tôi dâm ô, nào chánh ủy giật vợ thuộc cấp, nào đại tướng mê nhạc tím
nhạc vàng, nào chính trị viên đi bia nhộng, nào đồng chí cuỗm vợ đồng chí, nào
thí sinh nham nhỡ,vv... Cả một quyển Tự Vị sống mà mỗi một trang sách như một
trang tự vị để bạn đọc có thể tra cứu về Cộng sản: tàn bạo, vô luân, xảo quyệt,
dâm ô, lưu manh, rởm, đểu, vv...” (Tựa Tự Vị Thế Kỷ).
Vì
cái kỳ cục đó mà Xuân Vũ thấy không thể nào sống được trong chế độ cộng sản Hà
Nội. Ông xin về Nam sau khi tập kết được một năm. Xin về không được thì ông tìm
cách trốn đi. Nhưng trốn cũng không được thành ra ông lại phải ở lại xã hội cộng
sản Bắc Việt thêm một thời gian nữa. Ông lại có nhiều cơ hội để biết rõ thêm về
“xã nghĩa,” về “triều đình nhà Hồ, ” và nhất là cái “không còn nhân tính của
người cộng sản.” Sau cùng ông cũng được cho “đi B” tức là về Nam để nghiên cứu
viết về chiến dịch Đồng Khởi. Hành trình về phương Nam của ông được ghi lại khá
chi tiết trong bộ hồi ký năm quyển của ông (Đường Đi Không Đến, Xương Trắng
Trường Sơn, Mạng Người Lá Rụng, Đến Mà Không Đến, và Đồng Bằng Gay Gốc). Trừ
Đường Đi Không Đến được viết trong khoảng 1971-72, các tác phẩm khác chỉ được
viết sau này khi tác giả đã định cư ở Mỹ.
“Đồng
Bằng Gai Gốc” là quyển thứ năm trong bộ hồi ký năm quyển này. Con đường về Nam
là con đường núi rừng hiểm trở, nguy nan, chết chốc, mà cảnh “Mạng Người Lá
Rụng”, và “Xương Trắng Trường Sơn” là hình ảnh nổi bật nhất trong ký ức của
người chiến sĩ này. “Đồng Bằng Gai Gốc” là giai đoạn cuối cùng của con đường về
Nam. Về đây Xuân Vũ được nhìn thấy lại quê hương Mỏ Cày ở tĩnh Bến Tre, và bà
ngoại cùng những người thân khác trong gia đình tác giả. Về được quê hương, sống
bên cạnh những người thân, nhưng lòng không quên được cái hãi hùng của những
ngày tập kết ra Bắc. Xuân Vũ kể:
“Câu
chuyện bất ngờ đưa tôi vào cái hố đau thương của dân Nam Bộ mù quáng: “Tập Kết”.
Tập kết là thắng lợi của riêng Trung Ương Đảng chớ không phải của dân Việt Nam
càng không phải của dân Nam Bộ. Ngược lại, đối với dân Nam Bộ là một sự phủ
phàng, một sự tàn bạo, một sự lừa gạt ngọt ngào.
Tiểu
Đoàn Trưởng Lê Thanh Nhàn, tức Nhàn Râu là một anh hùng dân tộc. Anh là con trai
độc nhất của một ông Hội Đồng, anh có bằng Tú Tài, biết làm thơ và vẻ tranh. Đầu
kháng chiến anh đứng ra chiêu tập dân làng và tiến tới thành lập bộ đội võ
trang, sau này trở thành Tiểu Đoàn Chủ Lực 308. Giặc Pháp phải nể uy danh. Tám
năm xông pha trên trăm trận, Nhàn Râu ra Bắc được gì?
–
Tù!!...
Riêng
những đơn vị Nam Bộ ra Bắc thì mất phiên hiệu, một số làm lính giữ ngựa cho
triều đình nhà Hồ, số còn lại thì đi phá rừng Lam Sơn, rừng Xuân Mai. Trong số
này có không ít những người bất mãn bỏ ra dân làm nghề vô danh hoặc lên rừng cạo
đầu làm Mán, Mường...kể không xiết nỗi đau buồn. Đến khi cần thì Đảng Bác gọi
lại, đem đút vô lò sát sinh Trường Sơn...
Đảng
Cộng Sản sinh ra để làm hai việc: nói láo và làm bậy. Hễ chúng nói là nói láo,
hễ làm là làm bậy. Xin đọc giả nhớ giùm cho như vậy. Sông có thể cạn, núi có thể
mòn nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi.” (ĐBGG, tr.334-335).
Về
đây Xuân Vũ có cơ hội biết rõ hơn sự tuyên truyền láo khoét của Cộng sản Hà Nội.
Những anh hùng cách mạng mà Cộng sản Hà Nội vẽ ra để tuyên truyền, để đề cao
lòng ái quốc, để dụ dỗ người khác noi theo đều không đúng sự thật. Nguyễn Văn
Trỗi có chết nhưng không chết anh hùng như Cộng sản vẽ ra. Nữ anh hùng Tạ Thị
Kiều cũng chỉ là chuyện thổi phòng một cách lố bịch để tuyên truyền. Còn bao
nhiêu chuyện khác nữa do các văn thi sĩ Cộng sản nặn ra để đề cao những đảng
viên bần cố nông với lòng yêu nước và sự hy sinh thật là lố bịch chưa từng thấy
trong lịch sử anh hùng của dân tộc.
Nhưng
về quê hương Xuân Vũ cũng được người thân cho biết về chính sách bình định ở
vùng này cũng như tư cách của các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Nói về quân cán
chính Quốc Gia, một người bà con của Xuân Vũ bảo:
“Tụi
này hiền mà ác, ác mà hiền...
Hiền
là nó không bỏ bom bắn phá, nó chỉ dựng sân khấu hát xướng và đi phát thuốc men,
gạo vải cho bà con. Cho nên bà con ở yên không ai chạy đi đâu hết. Lại còn đi
coi hát của tụi nó. Quán xá chợ búa còn y nguyên. Nhà ai nấy ở. Chỉ vài ngày nó
đã lập được chánh quyền, biến vùng giải phóng thành vùng quốc gia, vậy không
phải hiền là gì? Cán bộ không phương gì giải thích tuyên truyền về “sự tàn ác”
của chúng nó. Chúng điều tra rất kỷ những chuyện làm bậy bạ của cán bộ địa
phương. Ông nào có vợ bé, ông nào mò vợ chủ nhà đóng quân, ông nào rượu chè be
bét, cô nữ cán bộ nào có chửa hoang, chúng đều nói trúng ngay trân. Cuối cùng
chúng nó hỏi: như vậy giải phóng để làm gì? Chưa hết chúng còn phân phát một
cuốn sách nói về cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc bị đày đi phá rừng đi đập đá làm
đường, rồi trên đường Trường Sơn ốm đau chết chóc như thế nào, cuối cùng chúng
lại hỏi: giải phóng để làm gì? Ở cuối quyển sách có in hình mấy chục cán bộ
chiến sĩ Nam Bắc hồi chánh. Trong đó có nhiều ông chức lớn lắm. Ở ngoài bìa sách
chúng vẽ hình cụ Hồ ốm o, chống gậy và đề một câu: Hồ Chí Minh đã ngủm.” (ĐBGG,
tr.350-351) .
Sự
khác biệt giữa hai chế độ đã quá rõ ràng. Người thông minh như Xuân Vũ không thể
không thấy để quyết định lựa chọn con đường sáng sủa tốt đẹp cho mình và thế hệ
tiếp theo. Ông đã sáng suốt quyết định trở về với hàng ngũ quốc gia. Ông đã được
bác sĩ Hồ Văn Châm, tổng trưởng Chiêu Hồi tiếp và mời giũ chức vụ khá quan
trọng, phó giám đốc nha chiêu hồi, trong bộ này. Giám đốc nha là Phạm Thành Tài
tức nhà văn Sơn Nam, vốn là chỗ quen biết. Ông Tài đã cho ông hai phòng lầu, một
phòng riêng, một đống pelure, một bó viết Bic, một cần vụ để có sai gì thì sai.
Ông bắt đầu viết “Đường Đi Không Đến”.
Và
tác phẩm này làm cho ông nổi danh ngay. Ông đã được giải thưởng văn học nghệ
thuật năm 1972. “Đường Đi Không Đến” là quyển hồi ký ghi lại kinh nghiệm “đi B”
tức là đi trở về miền Nam công tác. Đây là quyển hồi ký quan trọng nhất của Xuân
Vũ. Nó được ghi lại trước biến cố lịch sử năm 1975. Nó đánh dấu sự thức tỉnh và
chuyển hướng quan trọng trong cuộc đời Xuân Vũ. Và theo tôi đây là tác phẩm có
giá trị nhất của ông về phương diện tư tưởng cũng như về nghệ thuật. Dưới ngòi
bút thật linh động Xuân Vũ đã sâu xa phân tích và ghi lại tâm trạng và kinh
nghiệm đi B của ông, một kinh nghiệm hết sức kinh hoàng trên con đường 559 tức
đường mòn Hồ Chí minh theo giải Trường Sơn. Nếu không khí chính trị ở Hà Nội lúc
ông tập kết ra miền Bắc đã gây cho ông cảm giác đầu tiên là Cộng sản “Kỳ Cục” để
ông phải xin trở về Nam liền sau đó, thì con đường đi B với cảnh “Xương Trắng
Trường Sơn” và “Mạng Người Lá Rụng” đã gây cho ông một sự thức tỉnh vô cùng quan
trọng. Vấn đề “giá trị của con người,” vấn đề “nhân phẩm” và “nhân quyền,” vấn
đề “cúu cánh biện minh cho phương tiện, ” cùng với sự “hy sinh mạng người một
cách phi lý,” được đặt ra ở đây trong lúc này. Và tinh thần “nhân bản” được khơi
dậy mạnh mẽ khi người ta bắt đầu ý thức về điều kiện giá trị của con người bị
chà đạp, ý thức về nhân phẩm/nhân quyền bị tước đoạt, ý thức về sự sống cũng như
cái chết đều trở thành phi lý, và ý thức về sự lừa dối trở thành tư tưởng chỉ
đạo.
“Khi
ra đi, tác giả viết, ông chủ nhiệm ủy ban thống nhất – trung tướng Nguyễn Văn
Vịnh có đến gặp chúng tôi và bảo rằng đoàn chúng tôi về đến nơi sẽ có Chính Phủ
Liên Hiệp! Tình hình sáng sủa hơn bây giờ nhiều. Như vậy ai mà nằm lại cho được.
Còn một giò cũng phải nhắc cò cò đi tới chớ.” (Đường Đi Không Đến, tr. 18). Lời
hứa của chính quyền cộng sản không khác gì hình ảnh của mớ cỏ non và con ngựa
già nua của ông lão đánh xe rất quen thuộc với tác giã từ lúc nhỏ :
“Để
lợi dụng cái sức lực còn lại trong con vật, lão già đã nghĩ ra một cách có vẽ
nhân đạo hơn. Lão ta buộc một mớ cỏ non trên đầu cần câu và buộc chiếc cần câu
dọc theo gọng xe.
Mỗi
lần con ngựa bị mắc vào xe, nó cứ nhìn thấy cái mớ cỏ non đó nhảy múa trước mặt
nó, tưởng chừng nó có thể ngoạm được và nhai ngấu nghiến đi ngay.
Nhưng
tội nghiệp, con vật ngây thơ, cố ngay xương sống ra kéo chiếc xe đầy khách, mong
rút ngắn cái khoảng cách giữa cái mồm nó và mớ cỏ. Cái mớ cỏ vẫn nhảy múa trước
mặt nó, quyến rũ vô cùng, giuc nó chạy tới, chạy nhanh tới.
Con
vật ngây thơ vẫn cố sức phi tới với chút sức tàn, mong đớp được mớ cỏ. Có bao
giờ lão chủ xe lại giải thích cho con vật thân yêu của lão vì sao nó chạy hoài
mà không ngoạm được mớ cỏ?” (Thay Lời Tựa Đường Đi Không Đến).
Con
đường vào Nam dọc theo Trường Sơn vô cùng nguy hiểm, vất vả. Tác giả đã chứng
kiến bao nhiêu cảnh chết chóc đau thương, bao nhiêu cảnh bệnh hoạn, đói khát,
bao nhiêu người sống lê lết không còn mang tính con người nữa. Họ như con ngựa
kiệt sức của ông lão xe ngựa, cứ cố sức vươn lên, cố sức với tới mớ cỏ treo
trước mắt như một hứa hẹn không bao giờ đạt được. Đói, khát, ốm đau, bom đạn,
thiên tai, xảy ra thường xuyên trên con đường này. Người ta trở nên ích kỷ, bần
tiện, không chia nhau một chút muối, dấu kỷ một chút đường, tiện tặn từng hạt
gạo. Con người không còn là con người nửa. Trong một cơn đau tác giả đã phải
trải qua một tâm trạng vô cùng bi đát. Hãy nghe tác giả kể :
“Tôi
nhìn ra trời. Thấy gì đâu, một màu đen dày đặc... Tôi thấy tôi bé lại như một
hạt mưa rơi xuống từ vô tận, vỡ tan ra và trôi theo cái dòng nước sôi ấy. Và đời
tôi đâu còn biết bám tựa vào dâu nữa...Hai tiếng Văn Điển đến với tôi trong lúc
này thật là điều không hay ho chút nào. Bởi nó gợi lên cho tôi cái tên của một
bãi tha ma: nghĩa trang Văn Điển. Cái khí lạnh của Trường Sơn cùng với cái khí
âm của nghĩa trang Văn Điển đè nặng, vây riết lấy tôi. Hiện lên trước mặt tôi
hằng ngàn ngôi mộ với những tấm mộ bia cái thấp cái cao, cái mới cái củ, cái
xanh cái vàng. Đó là nơi gửi xương gửi thịt của một số cán bộ Miền Nam tập kết
ra Bắc. Ngoài đó những người bịnh tật hoặc có tuổi hết mong ngày về xứ thường
than thở với bạn bè : “Chắc tao phải ở lại Văn Điển rồi!” Tôi thì tôi không phải
ở lại Văn Điển nhưng tránh khỏi cái Văn Điển của Hà Nội, tôi lại phải nhìn thấy
cái Văn Điển của Trường Sơn, cái thứ Văn Điển không có mộ bia và không có khói
hương trống kèn, hay nói đúng ra Trường Sơn giờ đây đã trở thành một Văn Điển
kéo lê thê hằng nghìn cây số.” (ĐĐKĐ, tr. 86-88).
Người
ta, hay đúng ra người cộng sản nhân danh cái gì để xô đẩy hằng muôn vạn người đi
vào tử đạo này? Marx bảo “con người là quý nhất,” vậy mà chủ nghĩa cộng sản
Mác-Lê ở đây có xem con người ra gì đâu. Năm Cà Dom trong ĐĐKĐ nói một cách mỉa
mai: “Tựu trung con người cũng chỉ là một con vật đi hai chân thôi, nhất là trên
con đường này.” (nt., tr. 456). Chủ trương “cứu cánh biện minh cho phương tiện”
mà cộng sản đã triệt để lạm dụng là một chủ trương hết sức phi nhân. Nó chà đạp
lên nhân phẩm của con người, nó tước đoạt hết nhân quyền, nó đày đọa con người
vào cái chết vô cùng phi lý. Gần đến cuối đoạn đường chết chốc, tác giả chán nản
ghi :
“Tôi
tự thú nhận với tôi rằng tôi đã nản chí, tôi không còn muốn phấn đấu nữa...Tôi
nhớ lại lời của Lâm một chiều mưa. Câu nói ấy cứ thỉnh thoảng lại vang lên trong
tâm trí tôi. Bây giờ, cùng với cái tình huống nguy ngập này, nó lại trở lại với
tôi như một người bạn, như một kẻ thù, như một sự vuốt ve như một lời hăm dọa:
“Lần đầu tiên tao cảm thấy tao đi không đến nơi.” Đối với tôi hôm nay, đây không
phải là lần đầu tiên tôi cảm thấy điều đó. Mà điều đó là cái điều tôi thấy
thường xuyên khi tôi ăn cơm, mỗi khi tôi lên cơn sốt...
“Nhưng đến đây, bên bờ con suối đầy dẫy những đau thương vô lý, tôi lại cảm thấy
tôi góp vào đó một sự đau thương và vô lý bằng cả cái con người tôi.” (nt., tr.
457-458).
Thân
phận phi lý của con người cũng như sự sử dụng con người như những phương tiện
được thấy lại trong “Đến Mà Không Đến” của tác giả:
“Thân
phận con người trở thành nhỏ bé, vô nghĩa. (Bây giờ ngồi viết những dòng này,
nhìn lại cái đoạn đường Chó Ngáp, tôi chợt nghĩ: Đảng Việt Cộng đã dắt nhân dân
ta đi qua nhiều đồng chó ngáp mà rồi không đến đâu cả.)” (ĐMKĐ, tr.279-280).
Thật
là một hy sinh phi lý! Thật là một chủ trương phi nhân! Con người không phải là
con vật, con người không thể được dùng làm phương tiện để biện minh cho bất cứ
một cứu cánh nào. Con người là một thực thể có tri thức, có tình cảm, có hoạt
động, có nhu cầu, có ước vọng, có giá trị của con người. Hãy cho con người có
quyền tự do, có quyền làm người. Đừng chà đạp lên nhân phẩm, đừng tước đoạt nhân
quyền, hãy trả lại cho con người giá trị thật sự của con người. Đó là thông điệp
của Xuân Vũ qua bộ hồi ký của ông. Và qua thông điệp này ông thật là một nhà văn
lớn không những cho người dân Nam Bộ mà cho cả người dân Việt, hay đúng ra không
phải cho riêng người Việt Nam mà cho con NGƯỜI nói chung viết bằng một chữ N
hoa.
Đối
với nhà văn lớn này, nhà văn Lão Thành Xuân Tước có đề nghị là chúng ta, những
người thương kính Xuân Vũ, hãy thiết lập một cái quỹ mang tên “TÌNH THƯƠNG XUÂN
VŨ,” (hay XUAN VU FOUNDATION) để vinh danh nhà văn và để giúp cho các công trình
văn hóa có giá trị nhân bản sau này. Tôi hết sức đồng ý với nhà văn Xuân Tước và
xin kêu gọi những ai có lòng thương mến Xuân Vũ và có nhiệt tâm đối với văn hóa
nhân bản hãy cùng tôi góp sức làm nên quỹ này.
Nguyễn Thanh Liêm